Đặc điểm phân tử của vi rút Dengue típ 2 gây dịch tại Hà Nội, năm 2015

Các tác giả

  • Nguyễn Ngọc Linh Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
  • Phạm Đỗ Quyên Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
  • Vũ Thị Bích Hậu Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
  • Phạm Thị Thu Hằng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
  • Lê Thị Hiền Thu Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
  • Lê Thị Quỳnh Mai Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
  • Nguyễn Thị Thu Thuỷ Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội

DOI:

https://doi.org/10.51403/0868-2836/2020/103

Từ khóa:

Dengue 2, sốt xuất huyết Hà Nội 2015, gen E, kiểu gen

Tóm tắt

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây nên. Bệnh lây truyền từ người sang người qua vật chủ trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes. Vi rút Dengue thuộc nhóm B (Flavivirus), họ Flaviviridae, gồm 4 típ huyết thanh (1 - 4). Theo báo cáo của Cục Y tế Dự phòng, trên địa bàn Hà Nội, vi rút Dengue 2 (DENV2) chiếm tới 64%, được ghi nhận là 1 trong những căn nguyên chính gây ra vụ dịch sốt xuất huyết năm 2015. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ học phân tử của DENV2 lưu hành tại Hà Nội. Chúng tôi giải trình tự vùng gen E (1485 nucleotide) từ 22 mẫu huyết thanh bệnh nhân mắc sốt xuất huyết trong mùa dịch 2015 tại Hà Nội, cùng với 105 trình tự gen E trong khu vực. Kết quả cho thấy: DENV2 lưu hành tại Việt Nam có mặt trong 4 nhóm kiểu gen khác nhau. Toàn bộ DENV2 lưu hành ở Hà Nội năm 2015 trong nghiên cứu được ghi nhận thuộc kiểu gen mới (cosmopolitan) du nhập từ Ấn Độ với ước tính thời điểm tổ tiên chung vào năm 2002. Việc phát sinh kiểu gen mới có khả năng ảnh hưởng đến miễn dịch cộng đồng, và là nguyên nhân chính gây ra vụ dịch sốt xuất huyết lớn năm 2015 tại Hà Nội.

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Đã Xuất bản

25-04-2021

Cách trích dẫn

Linh, N. N. ., Quyên, P. Đỗ ., Hậu, V. T. B. ., Hằng, P. T. T. ., Thu, L. T. H. ., Mai, L. T. Q. ., & Thuỷ, N. T. T. . (2021). Đặc điểm phân tử của vi rút Dengue típ 2 gây dịch tại Hà Nội, năm 2015. Tạp Chí Y học Dự phòng, 30(10), 129–138. https://doi.org/10.51403/0868-2836/2020/103

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

1 2 > >>